Từ điển Murli

BKWSU VN
Updated on

Những từ tiếng Hindi và tiếng Anh thường được sử dụng trong murli & các câu chuyện tâm linh

Phần 1: Những từ tiếng Hindi và tiếng Anh thường được sử dụng trong murli 

I. Các nhân vật:

1. Shiv Baba:

• Shiva, Rudra, Ishwar, Prabhu…: tên của Shiv Baba

• Những vai trò của Shiv Baba: Cha (Mẹ), Thầy, Satguru (Người dẫn dắt tâm linh thật sự), Dharamraj (Phán Quan Tối Cao).

+ Với vai trò là Người Cha, Người trao cho các con của thừa kế là bình an, hạnh phúc và thịnh vượng trong suốt 21 kiếp.

+ Với vai trò là Người Thầy, Người dạy cho các con kiến thức về Đấng sáng tạo và quá khứ, hiện tại, tương lai của sự sáng tạo.

+ Với vai trò là Satguru, Người cho các con lời chúc phúc, lời hướng dẫn, cách thức và ánh sáng để đưa chúng đến sự giải thoát và sự cứu rỗi.

+ Vai trò của Baba như là vị Phán Quan Tối Cao. Trong suốt thời kỳ Chuyển giao, Baba giữ vai trò như là Người Mẹ, Người Cha và Người Thầy… Nếu chúng ta gây ra lỗi lầm, Người trao cho chúng ta sự tha thứ, lời dạy bảo và động viên, khuyến khích chúng ta. Tuy nhiên, vào cuối Chu kỳ, vai trò của Người thay đổi. Người giữ vai trò là Dharamraj – Phán Quan Tối Cao – với vai trò này, Người trở nên trung lập, quan sát hành động của chúng ta nhưng không đưa ra sự tha thứ. Người như là tấm gương để cho ta nhìn thấy hành động của mình và có cái nhìn rõ ràng về những hành động lỗi lầm mà ta từng làm nhưng đã quá trễ để thay đổi; từ đó, chúng ta trải nghiệm đau khổ và hối tiếc. Trải nghiệm này làm sạch đi tài khoản đau khổ cho ta. Không phải là Baba trao đau khổ mà là Người đưa ra tấm gương soi thấu. Tất cả các linh hồn phải trở về nhà trong trạng thái sạch sẽ và đây là quá trình Dharamraj làm sạch các tài khoản nghiệp mà chúng ta đã chưa giải hết.

• Trimurti Shiva: Brahma, Vishnu, Shankar

Thượng Đế Shiva giữ 3 vai trò là: sáng tạo (thông qua Brahma), nuôi dưỡng (thông qua Vishnu) và phá hủy đi những điều xấu xa (thông qua Shankar).

2. Brahma Baba:

• Krishna

Krishna – Narayan – Vishnu – Brahma là cùng một linh hồn nhưng vào thời kỳ khác nhau thì diễn phần vai khác nhau. Krishna là hoàng tử đầu tiên của thời kỳ Vàng. Khi trở thành hoàng đế, Krishna đổi tên thành Narayan. Vishnu chính là hình tượng kết hợp giữa Lakshmi và Narayan sau khi hai người kết hôn và trở thành hoàng đế – nữ hoàng đầu tiên của thời kỳ Vàng. Vào thời kỳ Chuyển giao, Linh Hồn Tối Cao đi vào cơ thể của Dada Lekraj (linh hồn Krishna sau 84 kiếp) để truyền đạt kiến thức và đặt tên cho ông ấy là Brahma.

• Adi Dev: vị nam thần đầu tiên

• Narayan (xem Krishna)

• Prajapita: người cha nhân loại

• Sakar Baba: Brahma Baba khi còn sinh thời

• BapDada:

Khi Brahma Baba đã đạt đến sự hoàn hảo, tâm ấn của ông trở nên tương đồng với tâm ấn của Thượng Đế, cả hai đến và làm việc cùng với nhau như là một. Vì vậy, giờ đây, cả hai được gọi là BapDada.

3. Mama:

• Radhe 

Radhe – Lakshmi – MahaLakshmi (Vishnu) – Mama cũng là cùng một linh hồn nhưng diễn phần vai khác nhau vào thời kỳ khác nhau. Radhe là công chúa đầu tiên của thời kỳ Vàng. Sau lễ cưới và lễ đăng quang với Krishna, Radhe đổi tên thành Lakshmi, trở thành nữ hoàng đầu tiên của thời kỳ Vàng. MahaLakshmi là hình tượng kết hợp giữa Lakshmi và Narayan (tương tự Vishnu, nếu gương mặt Narayan ở phía trước thì là Vishnu, còn nếu gương mặt Lakshmi ở phía trước thì là MahaLakshmi). Vào thời kỳ Chuyển giao, sau 83 kiếp người, linh hồn công chúa Radhe diễn phần vai là Radha và được mọi người gọi là Om Radhe. Mama là linh hồn giàu lòng trắc ẩn và đức hạnh; trí tuệ của Mama vô cùng mạnh mẽ. Mama có thể tiêu hóa kiến thức trong khi không ai có thể làm được, nhắc lại kiến thức trong tâm trí mình và làm rõ nhiều hàm ý tinh tế trong kiến thức. Vì Radhe nhanh chóng trở thành kho tàng kiến thức và năng lượng nên Radhe trở thành Mama, được Shiv Baba đặt cho tước hiệu là Jagadamba – bà mẹ thế giới, Saraswati – nữ thần của kiến thức.

• Adi Devi: vị nữ thần đầu tiên

• Lakshmi (xem Radhe)

• Jagadamba: Jagad, thế giới; amba, mẹ. 

4. Maya:

5 thói hư tật xấu, là kết quả của sự ý thức về thể xác. Maya là hình tượng cho 5 thói hư tật xấu tinh tế, khó nhận ra. 

Mayajeet nghĩa là người chinh phục Maya.

5. Ravan:

Cùng nghĩa với Maya, Satan. Ravan cũng là hình tượng cho 5 thói hư tật xấu được thể hiện ra qua lời nói, hành động.

6. Sudama: 

Người trao cho Krishna cả nắm gạo và đổi lại, anh ta nhận được cả vương quốc từ Krishna.

(Xem câu chuyện về Sudama)

7. Draupadi:

Vợ của các Pandava. Trong sử thi Mahabharata, một người xấu xa đã cố cởi sari của cô, nhưng kỳ diệu thay, bộ sari của cô cứ dài ra thêm 21 bộ và hắn không thể nào cởi nó ra được.

(Xem câu chuyện về Draupadi và Mahabharata)

8. Parvati:

Theo kinh sách Hindu, Parvati là vợ của Shiva. Giờ đây, chúng ta, các Brahmin, đều là những Parvati, cô dâu của Shiv Baba.

9. Rama: 

Người cai trị thời kỳ Bạc (triều đại Mặt trăng). Người Hindu tin rằng Rama là hóa thân của Thượng Đế. 

(Xem Ramayana) 

10. Sita: 

Vợ của Rama, người cai trị thời kỳ Bạc (triều đại Mặt trăng). Trong sử thi Ramayana, Sita bị Ravan bắt cóc và bị giam cầm ở đảo Lanka (Sri Lanka).

(Xem Ramayana)

11. Kumbhakarna: 

Gã khổng lồ say ngủ.

(Xem câu chuyện về Kumbhakarna và Ramayana)

12. Hanuman: 

Vị thần khỉ trong Ramayana được phái đi giải cứu Sita khỏi sự giam cầm của Ravan ở Lanka.

(Xem câu chuyện về Hanuman)

13. Raj Rishi: 

Người từ bỏ đường bệ.

(Xem câu chuyện về Dadhichi Rishi)

14. Gope & Gopi: 

Mục đồng, những người yêu thương Thượng Đế. Khi Thượng Đế cất lên tiếng sáo (murli), các gope và gopi sẽ chạy đến để nghe trong niềm hân hoan tột cùng.

15. Pandava:

Pandava có nghĩa là những người hành động thanh khiết và trong sạch. Họ được biểu tượng như là những người dẫn dắt tâm linh, người có trí tuệ yêu thương dành cho Thượng Đế. Các Brahma Kumar còn được gọi là Pandava. 

(Xem Mahabharata)

16. Kaurava:

Những nhân vật tàn bạo, độc ác trong sử thi Mahabharata. Họ biểu tượng cho phần đông con người trên thế giới hiện nay, những người mà không có tình yêu thương dành cho Thượng Đế.

(Xem Mahabharata)

17. Yadava:

Cùng với Kaurava, các Yadava là hình tượng đại diện cho lực lượng xấu xa bị tiêu diệt trong cuộc chiến Mahabharat. Họ đại diện cho người cầm quyền và các nhà khoa học vô thần.

18. Arjuna:

Là một trong các Pandava, có tài bắn cung, can đảm. Được cho rằng Shri Krishna đã nói kiến thức của kinh Gita cho Arjuna, nhưng giờ đây, tất cả chúng ta đều là Arjuna bởi vì chúng ta đang lắng nghe kinh Gita thật sự từ Shiv Baba. 

Từ “Arjuna” có nghĩa là người thanh khiết trong suy nghĩ, lời nói và hành động. Arjuna cũng là người làm việc chăm chỉ để đạt được điều gì đó xứng đáng. Người có được kiến thức từ Thượng Đế cũng được gọi là Arjuna.

(Xem Mahabharata)

19. Ajamil:

Người rất xấu xa, tội lỗi, hoàn toàn suy đồi.

20. Ganesh:

Vị thần đầu voi được nhiều tín đồ Hindu thờ phụng như là vị thần của sự thông tuệ.

21. Gaumukh: 

Hình ảnh đầu con bò với nước chảy ra từ miệng. Theo ý nghĩa tâm linh, đó là mật ngọt kiến thức chảy từ miệng con bò ở Gaumukh. Đây là hình ảnh biểu tượng cho Brahma Baba, ông giống như người mẹ vì ông nuôi dưỡng chúng ta bằng kiến thức.

(Xem câu chuyện Gaumukh)

22. Indra:

Thần mưa và sấm chớp. Indra cũng là vua của các vị thần. 

The court of Indra: buổi thiết triều của Indra. Trong buổi thiết triều của Indra, tất cả đều là những vị thần hoàn toàn thanh khiết. Một ngày nọ, các vị thần phát hiện ra có “mùi người” xuất hiện trong buổi thiết triều. Thì ra là một tiên nữ sau khi xuống trần đã nhớ mãi một người đàn ông và đem hình ảnh người ấy trở về trời. Và người tiên nữ ấy đã bị đuổi ra. Ý nghĩa thật sự của câu chuyện này là, Baba thường nói chỉ khi chúng ta thanh khiết thì mới được gặp mặt Người (ở Madhuban), nghĩa là chúng ta phải tuân thủ đầy đủ giới luật. Ai vi phạm sẽ phải chịu sự trừng phạt rất nhiều cho điều đó vào lúc cuối cùng. Và ai đưa người vi phạm ấy đến cũng phải chịu một phần trách nhiệm.  

23. Rup & Basant:

Rup là hiện thân của sự tưởng nhớ, và Basant là người tưới cơn mưa kiến thức.

(Xem câu chuyện về Rup & Basant)

24. Janak:

Vị vua nhận được sự giải thoát chỉ trong vòng một giây mà không cần phải rời khỏi nhà như các ẩn sĩ.

(Xem câu chuyện về vua Janak)

II. 3 thế giới:

• Paradham, brahm element, nirvana (cõi niết bàn), brahmand, land of peace (vùng đất bình an), land of liberation (vùng đất giải thoát), mukti (liberation, sự giải thoát), sweet home (ngôi nhà ngọt ngào)…: thế giới linh hồn.

+ Vùng này được bao phủ bởi ánh sáng đỏ vàng nên được gọi là “brahm” element.

+ Thế giới linh hồn là nơi hoàn toàn tĩnh lặng và bình an nên được gọi là vùng đất bình an – “land of peace” hoặc “mukti”.

• Angelic world, “movie” world…: sublte region – vùng tinh tế.

Angelic world: Thế giới thiên thần, thế giới này được bao quanh bởi ánh sáng trắng. Ở đó, linh hồn mặc bộ y phục ánh sáng trắng. Có sự chuyển động nhưng không có âm thanh nên được gọi là “movie world” – “thế giới chỉ có hình ảnh”.

• “Talkie” world (thế giới có âm thanh, tiếng nói), earth (trái đất)…: thế giới vật chất.

Land of happiness (vùng đất hạnh phúc), land of liberation in life (vùng đất giải thoát trong cuộc sống), jeevan mukti (liberation in life, sự giải thoát trong cuộc sống), land of salvation (vùng đất cứu rỗi)… thế giới vật chất vào thời kỳ Vàng, Bạc (thiên đường).

 Lokik father: người cha đời thường, người cha sinh thành, sinh ra cơ thể ta.

 Alokik father: người cha tâm linh, Brahma Baba.

 Parlokik Father: Người Cha vượt thoát, Shiv Baba.

III. Các lễ hội: 

Tất cả các lễ hội quan trọng chủ yếu của đạo Hindu đều xuất phát từ thời kỳ Chuyển giao này. Lễ hội Shiv Ratri, Holi, Raksha Bandhan… đều là những hoạt động giúp tất cả các linh hồn và các yếu tố tự nhiên được thanh lọc, chuẩn bị cho sự ra đời của Krishna. Lễ hội Diwali là lễ hội chào mừng Lakshmi và Narayan đăng quang trở thành hoàng đế và nữ hoàng thời kỳ Vàng. 

1. Shiv Ratri & Shiv Jayanti

Shiv Ratri là lễ hội tôn thờ và tỏ lòng tôn kính đối với Thượng Đế Shiva. Sự tôn kính này được tổ chức dưới hình thức là buổi lễ sinh nhật dành cho Người và nó là lễ hội đầu tiên của đạo Hindu theo năm âm lịch. Đây là sự kiện tốt lành chỉ diễn ra vào khoảng thời gian này trong Chu kỳ, khi Shiva đi xuống thế giới này. Shiv Ratri có nghĩa là “đêm của Shiva”, ý nói về bóng đêm của thời kỳ Đồng và thời kỳ Sắt – “thời kỳ đen tối”, lúc mà sự tha hóa về lối sống và những điều sai trái lan tràn khắp nơi. 

Shiv Jayanti là lễ “sinh nhật của Shiva” (“jayanti” có nghĩa là “sinh nhật”). 

Mục đích Shiva xuống đây là chuyển hóa thế giới cũ thời kỳ Sắt đầy đau khổ và tội lỗi thành thế giới mới thời kỳ Vàng bình an, thanh khiết và thịnh vượng. Mục tiêu và mục đích của Người là giúp cho các linh hồn đạt được những phẩm chất thánh thiện, trở nên giống như Lakshmi và Narayan thông qua sự thanh lọc.

2. Holi (Phagwa hoặc Holika)

Lễ hội này mang ý nghĩa là Thượng Đế tô màu cho chúng ta bằng các đức hạnh.

Lễ Holi là lễ hội dựa trên ký ức về thời kỳ Chuyển giao, đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ cũ và thiết lập nên trật tự thế giới mới. Đặc biệt hơn nữa, theo ý nghĩa tâm linh, Holi đánh dấu sự kết thúc của chu kỳ (5000 năm) và bắt đầu một chu kỳ mới. Holi là sự thanh lọc và chuyển hóa linh hồn từ trạng thái ô trọc trở nên thanh khiết bằng cách hấp thu kiến thức của Thượng Đế. 

Holi có nghĩa là quên đi quá khứ, “quá khứ là quá khứ”, là học từ những trải nghiệm quá khứ chứ không phải chìm sâu, hồi tưởng và lo lắng về những ký ức đã qua. Holika có nghĩa là đốt bỏ những tính quỷ thuộc về thế giới cũ này và để cho sự thiết lập nên thế giới mới được làm đầy bằng những đức hạnh thánh thiện. Trao tất cả những thói hư tật xấu, khó khăn, trở ngại cho Linh Hồn Tối Cao Shiva và làm đầy mình bằng những đức hạnh, phẩm chất thánh thiện.

Khía cạnh thứ hai của lễ Holi là sự thanh khiết trong suy nghĩ, lời nói và hành động. 

Khía cạnh thứ ba của lễ Holi là mối quan hệ với Người Cha ban tặng tình yêu thương thánh thiện và những hành động thánh thiện. Khi ta suy nghĩ và làm việc trong tình yêu thương mà không phải gắng sức vất vả, mọi chuyện sẽ diễn ra một cách dễ dàng. Thậm chí là những điều không thể cũng trở thành có thể và dễ dàng khi chúng được thực hiện bằng tình yêu thương.

3. Raksha Bandhan

Lễ hội này diễn ra vào tháng 8. Vào dịp này, một sợi dây rakhi – sợi dây thiêng liêng như một vật chứng cho sự thanh khiết – được cột. 

Ý nghĩa tâm linh của lễ hội Raksha Bandhan là một người đưa ra lời thề thiêng liêng với Linh Hồn Tối Cao Shiva để sống một cuộc đời thanh khiết trong cả suy nghĩ, lời nói và hành động. Lễ hội này là ký ức về sự bảo vệ khỏi thói hư tật xấu và thoát khỏi ràng buộc của thế giới vật chất, để rồi qua đó, giúp linh hồn trở về với trạng thái thanh khiết nguyên thủy của mình. 

4. Dashehra/Dussera

Lễ hội này biểu tượng cho sự chiến thắng của những điều tốt lành trước những điều xấu xa. Vào ngày lễ này, người ta đốt hình nộm của Ravan.

5. Diwali/Deepavali – Lễ hội Ánh sáng

Lễ hội Diwali là lễ hội chào mừng Lakshmi và Narayan đăng quang trở thành hoàng đế và nữ hoàng của thời kỳ Vàng. Diwali cũng đánh dấu thời điểm bắt đầu của thời kỳ Vàng vào ngày 1 tháng 1 năm 1 (1 – 1 – 1).

Diwali là lễ hội mừng chiến thắng của những đức hạnh thánh thiện trước những thói hư tật xấu (giận dữ, tham lam, cái tôi, sắc dục và gắn kết). Tóm lại, có thể gọi đó là sự chiến thắng của “điều tốt trước quỷ dữ” hay chiến thắng của “ánh sáng trước bóng tối”.

Vì thế, Diwali nhắc nhở chúng ta về mục tiêu và mục đích chủ yếu của mình, đạt được những phẩm chất cần thiết để trở nên hoàn hảo như các vị thần.

IV. Chu kỳ và các thời kỳ: 

1. Các thời kỳ:

• Satyug: Golden age – Thời kỳ Vàng.

• Tretayug: Silver age – Thời kỳ Bạc.

• Dwaparyug: Copper age – Thời kỳ Đồng.

• Kaliyug: Iron age – Thời kỳ Sắt.

• Sangamyug: Confluence age – Thời kỳ Chuyển giao.

2. Trạng thái của linh hồn qua các thời kỳ:

Qua các thời kỳ, trạng thái của linh hồn cũng đã đi xuống từ thanh khiết đến ô trọc.

• Satopradhan: hoàn toàn thanh khiết, có đầy đủ 16 cấp độ thánh thiện (trạng thái linh hồn trong thời kỳ Vàng).

• Sato: thanh khiết, nhưng không phải là thanh khiết hoàn toàn (trạng thái linh hồn trong thời kỳ Bạc).

• Rajo/Rajoguni: bán thanh khiết, bắt đầu ô trọc rồi nhưng vẫn còn thanh khiết (trạng thái linh hồn trong thời kỳ Đồng).

• Tamopradhan: ô trọc (trạng thái linh hồn trong thời kỳ Sắt).

3. Các dòng tộc theo từng thời kỳ:

• Brahmin clan: Dòng tộc Brahmin, chỉ được tạo ra và tồn tại vào thời kỳ Chuyển giao.

• Deity clan: Dòng tộc thánh thần, tồn tại vào thời kỳ Vàng.

• Warrior clan: Dòng tộc chiến binh, thời kỳ Bạc.

• Merchant clan: Dòng tộc thương nhân, thời kỳ Đồng.

• Shudra clan: Dòng tộc tiện dân, thời kỳ Sắt. 

4. Swastika:  

Chữ vạn, 4 góc phần tư của swastika tượng trưng cho sự đi xuống theo chiều kim đồng hồ trên bánh xe Vở kịch.

V. 4 môn học trong Raja Yoga:

• Gyan: knowledge – kiến thức.

• Yoga: remembrance – sự tưởng nhớ.

• Dharna: inculcation – thực hành, khả năng hấp thụ kiến thức và các đức hạnh.

• Seva: service – phục vụ.

VI. Linh hồn:

• Trinetri: người đã mở con mắt thứ 3, con mắt tâm linh, con mắt của kiến thức.

• Trilokinath: người có kiến thức về 3 thế giới – thế giới linh hồn, thế giới thiên thần, thế giới vật chất.

• Trikaldarshi: người hiểu biết về 3 khía cạnh của thời gian – quá khứ, hiện tại và tương lai của sự sáng tạo.

• Swadharsanchakradhari: (Swa – self, dharsan – vision, chakra – discus, dhari – person) The spinner of the discus of self – realisation – người xoay chiếc đĩa tự nhận thức bản thân, người luôn nghiền ngẫm, nhận thức về bản thân. Có nghĩa là người hiểu biết về quá khứ, hiện tại và tương lai của Chu kỳ, người biết được mình đến từ đâu và mình sẽ trở về đâu, người biết được bản chất thật sự của mình. 

Swadharsanchakra: the discus of self – realisation, chiếc đĩa xoay nhận thức bản thân, đây là 1 trong 4 vật trang trí của Vishnu.

VII. Lối sống thanh khiết:

1. 16 celestial degrees: 16 cấp độ thánh thiện

Về sự thanh khiết của linh hồn, Chu kỳ mới bắt đầu với kiếp sinh của Shri Krishna, vị thần thanh khiết nhất và cao quý nhất. Trong thời kỳ này, linh hồn ở cấp độ thanh khiết cao nhất – 16 cấp độ thánh thiện, 100% thanh khiết (như trăng tròn 16). Vào cuối thời kỳ Vàng, tức là sau 1250 năm, thời kỳ Bạc bắt đầu. Lúc này, cấp độ thanh khiết của linh hồn từ 16 giảm xuống còn 14, linh hồn đã mất đi một số cấp độ thanh khiết và tích lũy sự ô trọc (tương đương với phần mất đi). Cuối thời kỳ Bạc, cấp độ thanh khiết của linh hồn giảm chỉ còn từ 10 – 12 cấp độ. Nghĩa là sau 2500 năm, sự thanh khiết của linh hồn đã giảm đi 4 – 6 cấp độ thánh thiện, còn khoảng 67% thanh khiết. Cấp độ thanh khiết tiếp tục giảm dần trong suốt thời kỳ Đồng và vào đầu thời kỳ Sắt thì còn lại 4 – 6 cấp độ. Đến cuối thời kỳ Sắt, mức độ thanh khiết của linh hồn bằng 0. Trí tuệ linh hồn từ vàng (đầu 

Chu kỳ) trở thành đá (cuối Chu kỳ). 

2. Manmanabhav: Hãy nhớ đến Ta.

3. Madhyajibhav: Hãy nhớ đến mục tiêu và mục đích của mình, trở thành Vishnu.

4. Surrender – Dâng nộp:

Là quá trình trao trí tuệ cho Baba và làm việc theo phương pháp mà Người chỉ cho chúng ta. Theo cách này, chúng ta có thể thanh lọc trí tuệ của mình và đưa trí tuệ trở về với trạng thái nguyên thủy mạnh mẽ, rõ ràng như ban đầu. Dâng nộp là làm theo những gì Baba muốn, chứ không phải là làm theo những lời chỉ dẫn của riêng mình hoặc những lời chỉ dẫn của người khác. Baba nói với chúng ta những điều Người mong muốn thông qua murli, lời shrimat của Người. Trước khi đưa ra quyết định hay thực hiện hành động, chúng ta có thể tự hỏi mình rằng quyết định hay hành động dự kiến này có theo những gì Baba muốn hay không? Hay là, đây có phải là hành động mà Brahma Baba sẽ làm không? Chúng ta được yêu cầu dâng nộp những điều sai trái dưới dạng là những thói quen cũ dựa trên ý thức cơ thể.

5. Trustee – Người được ủy thác:

Không phải là Thượng Đế cần đến tiền hay kỹ năng của ta cho riêng Người, mà Người khuyến khích chúng ta sử dụng mọi thứ mình có với ý thức mình là người được giao phó, để chúng ta có thể bỏ đi “cái tôi” và “của tôi”. Với vai trò là người được ủy thác, tôi vẫn chịu trách nhiệm cho những gì tôi có và sử dụng chúng trong công việc phục vụ những linh hồn khác.

6. Sacrifice – hiến sinh/hiến tế:

Sacrifice fire: ngọn lửa hiến sinh/hiến tế, còn có nghĩa là Học viện, nơi mà con người hiến sinh/hiến tế những thói hư tật xấu và nhược điểm của mình cho Thượng Đế Shiva.

(Xem Rudra Gyan Yagya) 

VIII. Những khái niệm khác:

1. Kiến thức, thờ cúng và sự bàng quan – knowledge, devotion and disinterest:

• Gyan – Kiến thức:

Thời kỳ Vàng và Bạc là thời kỳ bình an, thanh khiết và thịnh vượng, là thời kỳ cai trị của các vị thần. Thánh thần thanh khiết vì họ đã theo con đường kiến thức vào thời kỳ Chuyển giao. Kiến thức chính là lời dạy từ Thượng Đế Shiva khi Người đến vào thời kỳ Chuyển giao. Đó là kiến thức về Thượng Đế, linh hồn, thế giới và Chu kỳ.

• Bhakti – Thờ cúng:

Vào đầu thời kỳ Đồng, việc thờ cúng là thanh khiết, không bị pha tạp và con người thờ Shiva với tình yêu thương vô hạn. Sau đó, người ta bắt đầu thờ cúng các vị thần như Lakshmi – Narayan, Radhe – Krishna. Thời gian trôi qua, họ chuyển sang thờ các Shakti như Saraswati, Durga và Kali cũng như Hanuman, Ganesh. Đến thời kỳ Sắt, những yếu tố tự nhiên, tất cả mọi thứ đều được thờ. Ngày nay, con người lại có “yoga” với khoa học, chỉ khi đau khổ thì họ mới nhớ đến Thượng Đế. Đây chính là sự phô trương và vẻ hào nhoáng của Maya, Ravan.

• Disinterest: 

Bàng quan, có nghĩa là đốt cháy những thói hư tật xấu, quên đi những cạm bẫy của khoa học và thế giới cũ này. Bàng quan còn có nghĩa là thoát khỏi mọi ràng buộc của thế giới cũ và chuẩn bị cho thế giới mới bằng cách tuân theo những lời chỉ dẫn hướng thượng của Thượng Đế. Vẫn sống trong thế giới này nhưng không bị ảnh hưởng như là người quan sát tách rời.

2. Rudra Gyan Yagya: The sacrificial fire of the knowledge of the Rudra – Ngọn lửa hiến tế kiến thức của Rudra.

“Rudra” là một tên gọi khác của Thượng Đế. Chính Rudra (Shiva) đánh thức sự nhận thức trong ta và trao cho ta kiến thức về cách làm thế nào để trở thành một hạt trong chuỗi hạt của Rudra.

“Yagya” có nghĩa là “ngọn lửa hiến tế”. Nhưng theo ý nghĩa tâm linh của Brahma Kumaris, nó có nghĩa là “Học viện”. Chính Người Cha – Đấng ban tặng đã thiết lập nên Rudra Gyan Yagya này, một ngọn lửa hiến tế kiến thức, để mang lại lợi ích cho các con của Người. Trên con đường thờ cúng, người ta đốt ngọn lửa hiến tế lớn, và họ bỏ vào trong đó hạt mè, ghee (bơ lỏng) và nhiều loại ngũ cốc (tượng trưng cho 5 yếu tố tự nhiên). Còn trong cuộc đời tâm linh của mình, chúng ta hiến dâng tất cả những thói hư tật xấu, tâm ấn cũ, mọi điều vật chất và cả lối sống cũ của mình vào ngọn lửa biểu tượng, chính là Học viện này. 

3. Vishnu mala – The rosary of Vishnu: chuỗi hạt của Vishnu, gồm 108 viên ngọc chiến thắng.

4. Rudra mala – The rosary of Rudra: chuỗi hạt của Rudra, gồm tất cả các linh hồn trên thế giới này.

5. Nar (man) – Narayan (elevated man):

Lời dạy Shiv Baba trao cho ta để thay đổi ta từ nar (con người bình thường) trở thành Narayan (con người hướng thượng, thánh thần).

6. The mouth born progenies of Brahma: những đứa con được sinh ra từ miệng của Brahma. Shiv Baba đi vào trong cơ thể của Brahma Baba để nói ra kiến thức, những ai nhận được kiến thức này, nhận ra mình là ai, nhận ra được Người Cha sẽ trở thành con của Người.

7. Mahabharat/Mahabharata: 

Cuộc chiến vĩ đại đưa thời kỳ Sắt đến kết thúc và chuẩn bị thế giới cho thời kỳ Vàng. Đây cũng là sử thi Ấn Độ được viết vào thời kỳ Đồng.

8. Ramayana:

Sử thi Ấn Độ kể về việc nàng Sita (hình ảnh tượng trưng cho toàn bộ loài người) bị Ravan (quỷ dữ) bắt cóc và sau đó nàng được chồng mình (Thượng Đế) giải thoát.

9. Double crown (the crown of purity & the crown of authority/highness):

Vương miện kép: một là vương miện biểu tượng cho sự thanh khiết, đó là vầng hào quang ánh sáng quanh đầu; và hai là chiếc vương miện hữu hình, đó là quyền cai trị vương quốc. 

10. Double throne (the throne of Baba’s heart & the throne of authority/highness):

Ngai vàng kép: một là ngai vàng trong tim Baba; và hai là ngai vàng vương quốc.

11. Dharma:

Dharma: way of life – lối sống. Dharma là một từ tiếng Sanskrit, dịch sang tiếng Anh có nghĩa là “religion” – “tôn giáo”, nhưng nghĩa thật sự của từ “dharma” là:

+ Bản chất của linh hồn là bình an và thanh khiết.

+ Một lối sống dựa theo chân lý, trách nhiệm và vẻ đẹp xuất phát từ việc hiểu biết sâu sắc mối quan hệ với Thượng Đế.

Adi Sanatan Devi Devta Dharma: the Original Ancient Deity Religion – Lối sống thánh thần nguyên thủy xa xưa.

12. Religion: 

Religion có nghĩa là tôn giáo. Có rất nhiều ví dụ về từ “religion” được sử dụng để bào chữa hoặc che đậy cho lòng tham lam hoặc bạo lực, hay đồng nghĩa với niềm tin mù quáng, những lễ nghi vô nghĩa và sự cuồng tín. Tôn giáo thật sự thì nên là chất xúc tác cho sự hợp nhất toàn cầu lại với nhau, nhưng chúng ta lại thấy thế giới cứ trượt dài ngày một xa hơn và chính các tôn giáo lại chia tách thành nhiều giáo phái, nhiều nhóm khác nhau. Lịch sử đã bị vấy bẩn bởi nghịch lý không thể tin nổi là hai đội quân đánh nhau, cả hai phe đều tin rằng Thượng Đế đứng về phe mình và Người sẽ giúp mình chiến thắng bên kia.

13. Manmat, parmat, shrimat:

• Manmat: lời chỉ dẫn của bản thân.

• Parmat: lời chỉ dẫn của người khác.

• Shrimat: lời chỉ dẫn hướng thượng của Thượng Đế.

14. Hum so, so hum: what I was, I want become – Tôi đã từng là gì, thì nay tôi lại trở nên như thế.

15. Praja: Subject, thần dân. (Praja Yoga – Yoga để trở thành thần dân)

16. Raja: King, vua. (Raja Yoga – Yoga để trở thành vua)

17. α (alpha): Baba

18. β (beta): của thừa kế 

19. Womb: trong bụng mẹ

• Jail of the womb: ở trong bụng mẹ như là trong nhà ngục.

• Palace of the womb: ở trong bụng mẹ như là trong cung điện.